Chuyển tới nội dung

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Người con Quảng Bình làm nên lịch sử

Sinh ra tại mảnh đất Quảng Bình nắng gió, nơi dòng sông Kiến Giang bồi đắp nên những giá trị văn hóa và tinh thần quật cường, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là niềm tự hào lớn lao của vùng đất miền Trung. Xuất thân từ một gia đình nhà nho tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, ông bắt đầu con đường sự nghiệp không phải bằng binh nghiệp mà trong vai trò một thầy giáo dạy lịch sử. Thế nhưng, chính tri thức sâu sắc cùng thiên tài bẩm sinh đã đưa vị thầy giáo ấy trở thành Tổng Tư lệnh đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Không qua bất kỳ trường lớp huấn luyện quân sự chính quy nào, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn trực tiếp đối đầu và lần lượt đánh bại 10 vị tướng lừng danh đến từ hai cường quốc quân sự hàng đầu thế giới là Pháp và Mỹ. Bằng tài cầm quân kiệt xuất và bản lĩnh chiến trường, ông không chỉ viết nên những trang sử vàng cho dân tộc mà còn khiến các danh tướng quốc tế phải nghiêng mình thán phục, thậm chí tự hào khi được làm đối thủ của ông. Người con ưu tú ấy của Quảng Bình đã bước vào lịch sử quân sự thế giới như một trong những vị tướng vĩ đại nhất mọi thời đại.

Con đường đến với cách mạng – Tia lửa chói giữa đêm dài đô hộ

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (tên khai sinh Võ Giáp) chào đời ngày 25/8/1911, trong một gia đình nhà nho tại làng An Xá bên dòng Kiến Giang. Thân phụ ông, cụ đồ Võ Quang Nghiêm là thầy dạy học và bốc thuốc. Thân mẫu ông là bà Nguyễn Thị Kiên, tần tảo buôn bán, làm ruộng nuôi bảy người con ăn học.

Quảng Bình là cái nôi giàu truyền thống yêu nước, nơi đã hưởng ứng phong trào Cần Vương và các cuộc đấu tranh của sĩ phu, nghĩa quân tại Thành Đồng Hới , v.v. Chính truyền thống ấy sớm hun đúc trong ông tinh thần yêu nước và khát vọng giải phóng dân tộc.

Năm 1925, ông theo học trường Quốc học Huế, là học sinh giỏi và sớm tham gia phong trào yêu nước. Năm 1927, mới 16 tuổi, ông viết bài báo đầu tiên bằng tiếng Pháp cho tờ L’Annam, được chủ bút Phan Văn Trường nhận xét có giọng văn sắc sảo như Nguyễn Ái Quốc ở Paris. Không lâu sau, ông bị đuổi học vì tổ chức bãi khóa phản đối việc đuổi học người bạn Nguyễn Chí Diểu.

Tuy nhiên, đây lại là bước ngoặt cho con đường hoạt động cách mạng của Võ Giáp. Ông được Nguyễn Chí Diểu giới thiệu công việc tại Quan hải tùng thư và báo Tiếng Dân, sau đó kết nạp vào Đảng Tân Việt Cách mạng, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Tháng 10/1930, giữa cao trào Xô Viết Nghệ – Tĩnh, mật thám Pháp bắt ông tại nhà in báo Tiếng Dân. Ông bị kết án 2 năm tù, giam tại nhà lao Thừa Phủ cùng người đồng chí Nguyễn Thị Quang Thái – sau này là vợ đầu của ông. Nhờ Hội Cứu tế đỏ can thiệp, ông được trả tự do cuối năm 1931.

Năm 1932, ông ra Hà Nội học Luật tại Đại học Đông Dương, đồng thời dạy lịch sử tại trường Thăng Long và hoạt động tích cực trên mặt trận báo chí kêu gọi chính quyền đô hộ thực hiện chính sách dân chủ, cổ vũ dân chúng đấu tranh vì dân chủ, tự do,… Ông cùng Đặng Thai Mai và các giáo sư trường Thăng Long mua lại báo Hồn Trẻ, ra số mới ngày 6/6/1936, được 12 số thì bị đóng cửa.

Ông chuyển sang làm báo tiếng Pháp vì dễ xuất bản hơn, cùng Nguyễn Thế Rục ra tờ Le Travail tháng 9/1936, tự làm chủ bút, ra 30 số cũng bị cấm. Cứ tờ này đóng, ông lại mở tờ khác. Báo tiếng Pháp có Rassemblement (Tập hợp), En Avant (Tiến lên), Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta). Báo tiếng Việt có Thế giới, Đời nay, Tin tức, Ngày mới,… Ngày 24/4/1937, ông được bầu làm Chủ tịch báo giới Bắc Kỳ tại Đại hội Báo giới Bắc Kỳ lần thứ nhất.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ một thầy giáo dạy sử trở hành vị Tổng Tư Lệnh huyền thoại
Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ một thầy giáo dạy sử trở hành vị Tổng Tư Lệnh huyền thoại

Cuộc gặp định mệnh giữa Võ Nguyên Giáp với người thầy Nguyễn Ái Quốc

Năm 1940, Võ Nguyên Giáp được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Được Đảng cử sang Trung Quốc, Võ Nguyên Giáp cùng Phạm Văn Đồng tìm gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – người ông đã ngưỡng mộ khi còn học ở trường Quốc học Huế. Cuộc gặp gỡ tại Côn Minh trở thành một bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông: từ đây, ông trở thành người học trò gần gũi và xuất sắc của Nguyễn Ái Quốc.

Trong thời gian ở Trung Quốc, Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí bắt tay vào nhiệm vụ then chốt: đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt cho phong trào cách mạng trong nước. Ông tham gia biên soạn chương trình, trực tiếp giảng dạy cho lớp huấn luyện đầu tiên với 43 người, chuẩn bị lực lượng để trở về gây dựng phong trào khắp các địa phương. Những bài giảng ấy sau này được tập hợp thành tài liệu Con đường giải phóng, dùng huấn luyện cán bộ Việt Minh trong nhiều năm.

Năm 1941, khi trở về nước, Võ Nguyên Giáp có mặt tại Hội nghị Trung ương 8 – hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, đặt nền móng cho đường lối giải phóng dân tộc bằng đấu tranh vũ trang kết hợp đấu tranh chính trị.

Cuối năm 1944, Hồ Chí Minh giao cho Võ Nguyên Giáp một nhiệm vụ mới: thành lập lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên. Ngày 22/12/1944, giữa khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời với 34 chiến sĩ, phần lớn là người dân tộc thiểu số, vũ khí trong tay chỉ có vài khẩu súng thô sơ. Võ Nguyên Giáp chính thức bước vào con đường cầm quân, trở thành người Anh cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam sau này.

Mười bốn năm sau ngày rời Quốc học Huế, người thanh niên từng bị đuổi học đã trở thành một trong những người đặt nền móng cho tổ chức làm nên Cách mạng Tháng Tám, và sau này là vị Tổng Tư lệnh đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Cuộc đời cầm binh huyền thoại của vị tướng nhân dân

Từ đội quân 34 người, Võ Nguyên Giáp xây dựng nên lực lượng vũ trang theo mô hình ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích. Ông vận dụng chiến tranh nhân dân để lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh.

Tháng 8/1945, ông chỉ huy Giải phóng quân tiến về giải phóng Thái Nguyên, mở đường cho Cách mạng Tháng Tám thắng lợi. Bước vào kháng chiến chống Pháp, năm 1947, quân dân ta dưới sự chỉ huy của ông đánh bại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của Pháp tại Việt Bắc, bảo toàn căn cứ địa và lực lượng chủ lực. Năm 1948, ở tuổi 37, Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, trong buổi lễ do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì.

Năm 1950, chiến dịch Biên Giới Thu Đông mở màn bằng trận Đông Khê ngày 16/9, giải phóng toàn tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn, khai thông đường nối Việt Bắc với các nước xã hội chủ nghĩa. Tiếp đó là các chiến dịch Hòa Bình (1951), Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953). Trong chưa đầy một thập kỷ, Pháp thay bảy vị Tổng tư lệnh quân viễn chinh tại Đông Dương nhưng không ai có thể xoay chuyển được cục diện chiến trường.

Đỉnh cao sự nghiệp cầm quân của vị tướng bước ra từ bục giảng là chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trước giờ nổ súng, Đại tướng quyết định đổi phương châm từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Bộ đội kéo pháo vượt núi rừng Tây Bắc, khoét núi, ngủ hầm, siết chặt vòng vây quanh tập đoàn cứ điểm. Sau 56 ngày đêm chiến đấu, ngày 7/5/1954, chiến dịch kết thúc thắng lợi, buộc Pháp ký Hiệp định Genève ngày 21/7/1954, chấm dứt gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp tại Việt Nam.

Kháng chiến chống Mỹ – cuộc đấu trí với siêu cường quân sự

Khi ông trở về từ chiến trường Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn: “Chúc chú thắng lợi trở về! Chúng ta còn phải đánh Mỹ.” Quả thật, sau Hiệp định Genève, đất nước đứng trước một thử thách mới: vĩ tuyến 17 chia đôi hai miền, trong khi Mỹ dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam.

Dân tộc Việt Nam bước vào cuộc đấu tranh không cân sức với đối thủ là siêu cường quân sự, kinh tế hùng mạnh nhất thế giới. Tuy nhiên, cả dân tộc Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng những người rường cột như Tổng Bí thư Lê Duẩn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, v.v., không hề nao núng.

Đại tướng nhân dân Võ Nguyên Giáp đích thân đến chiến trường thăm hỏi, động viên, và truyền lửa cho các chiến sĩ
Đại tướng nhân dân Võ Nguyên Giáp đích thân đến chiến trường thăm hỏi, động viên, và truyền lửa cho các chiến sĩ

Đại tướng cùng Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam thành lực lượng chính quy, lập các quân chủng Phòng không – Không quân, Hải quân, Đặc công. Ông tiếp tục phát triển nghệ thuật chiến tranh nhân dân lên tầm cao mới: kết hợp lực lượng chủ lực với chiến tranh du kích, phối hợp quân sự với chính trị, ngoại giao, đồng thời xây dựng hậu phương miền Bắc thành nền tảng cho một cuộc chiến lâu dài.

Từ năm 1959, tuyến đường Trường Sơn – đường mòn Hồ Chí Minh được mở ra, bắt đầu cho huyết mạch chi viện vì miền Nam ruột thịt. Suốt 16 năm sau đó, hàng trăm nghìn bộ đội, công binh, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến ngày đêm mở đường, giữ tuyến, đưa vũ khí, lương thực vào Nam. Năm 1961, đường Hồ Chí Minh trên biển tiếp tục tạo nên những huyền thoại không tưởng.

Đầu năm 1968, trong khi Mỹ dồn binh lực vào Khe Sanh vì lo ngại một “Điện Biên Phủ” tái diễn, quân dân miền Nam bất ngờ tiến công đồng loạt hàng chục đô thị dịp Tết Mậu Thân, khiến làn sóng phản đối chiến tranh ở Mỹ dâng cao. Đầu năm 1971, trong Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, quân dân ta đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của quân đội Sài Gòn có yểm trợ hỏa lực Mỹ, làm phá sản một mũi nhọn quan trọng trong chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.

Năm 1972, Quân giải phóng giằng co 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, tạo lợi thế cho mặt trận ngoại giao tại Hội Nghị Paris. Cuối năm 1972, lực lượng phòng không – không quân bắn rơi 34 máy bay B52 trong 12 ngày đêm, làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” buộc Mỹ ký Hiệp định Paris năm 1973 và rút quân khỏi Việt Nam.

Đầu năm 1975, sau chiến thắng Buôn Ma Thuột ngày 10/3, Bộ Chính trị quyết định rút ngắn kế hoạch, dồn toàn lực giải phóng miền Nam với khí thế “một ngày bằng hai mươi năm”. Ngày 7/4/1975, Đại tướng gửi điện tới các cánh quân: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa… Quyết chiến và toàn thắng.” Dưới sự chỉ huy của Đại tướng Văn Tiến Dũng, năm cánh quân tiến về Sài Gòn, trưa 30/4/1975, xe tăng Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập, thống nhất đất nước.

Đại Tướng Võ Nguyên Giáp cùng Tư Lệnh Đồng Sỹ Nguyên ở đường mòn Trường Sơn
Đại Tướng Võ Nguyên Giáp cùng Tư Lệnh Đồng Sỹ Nguyên ở đường mòn Trường Sơn

Dấu ấn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vượt xa ngoài biên giới Việt Nam

Không đợi đến ngày toàn thắng năm 1975, tên tuổi Võ Nguyên Giáp đã sớm vượt ra ngoài biên giới Việt Nam, trở thành đối tượng nghiên cứu và ngưỡng mộ của giới quân sự, học thuật thế giới. Ngay từ tháng 5/1946, tại Hội nghị Đà Lạt, phái đoàn Pháp đã đặt cho ông biệt danh “Ngọn núi lửa phủ tuyết” trước lập trường kiên quyết nhưng cách ứng xử điềm tĩnh, lịch thiệp trên bàn đàm phán.

Nhà báo, sử gia Mỹ Stanley Karnow – tác giả cuốn “Vietnam: A History” (1983) – nhận định: “Sau Hồ Chí Minh, ông là nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam thế kỷ 20… Ông ấy giống như một vị thánh. Không có gì khiến ông phải chấp nhận thất bại.”

Sự ngưỡng mộ ấy kéo dài nhiều thập kỷ sau chiến tranh, khi nhiều học giả quốc tế dành nhiều năm sự nghiệp nghiên cứu về ông. Năm 1992, nhà sử học quân sự Anh Peter Macdonald xuất bản “Giap: An Assessment” sau nhiều lần trò chuyện trực tiếp với ông. Năm 1997, nhà sử học Mỹ Cecil B. Currey ra mắt “Chiến thắng bằng mọi giá”, gọi ông là thiên tài quân sự. Năm 2008, cuốn sách “Những nhà lãnh đạo quân sự lớn và những chiến dịch của họ” xuất bản tại Anh xếp ông vào danh sách 59 danh tướng nổi bật nhất trong 2.500 năm lịch sử quân sự thế giới – người duy nhất còn sống khi sách phát hành.

Quyển thư pháp viết về cuộc đời Đại Tướng Võ Nguyên Giáp được trưng bày ở bảo tàng Quảng Bình
Quyển thư pháp viết về cuộc đời Đại Tướng Võ Nguyên Giáp được trưng bày ở bảo tàng Quảng Bình

Trái tim Tướng Võ Nguyên Giáp vĩ đại luôn hướng về quê nhà

Hai cuộc kháng chiến khép lại đã đưa dân tộc bước sang trang sử mới, mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ sau hơn 30 năm chiến tranh không khoan nhượng. Ấy vậy mà trước sự ca tụng, vị tướng nhân dân đã nói răng: “Vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình”.

Người chiến sĩ trẻ tuổi không khỏi xúc động khi được gặp và bắt tay với Đại Tướng Võ Nguyên Giáp
Người chiến sĩ trẻ tuổi không khỏi xúc động khi được gặp và bắt tay với Đại Tướng Võ Nguyên Giáp

Khi tiếng súng đã ngưng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp dành tâm sức xây dựng đất nước thời bình, lần lượt là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách khoa học kỹ thuật, rồi Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Dân số – Sinh đẻ có kế hoạch. Dù ở cương vị nào, ông cũng vui vẻ đảm nhận.

Năm 1991, ở tuổi 80, ông mới chính thức nghỉ hưu nhưng Đại tướng chưa từng ngơi việc. Ông là Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội Khuyến học Việt Nam, đồng thời dồn tâm sức tổng kết tư tưởng, nghệ thuật quân sự Việt Nam và góp ý tâm huyết cho nền giáo dục nước nhà cho đến những năm cuối đời.

Dù bận việc nước, quê hương Quảng Bình vẫn luôn là nơi ông đau đáu hướng về. Mỗi lần trở lại làng An Xá, ông dành nhiều thời gian hỏi thăm bà con chuyện mùa màng, đê điều, cuộc sống sau những đợt bão lũ, hạn hán vốn không xa lạ với dải đất miền Trung.

Đại tướng cũng là một trong những người sớm nhìn thấy giá trị của hệ thống hang động Quảng Bình. Năm 1990, chuyên gia người Anh Howard Limbert đến khảo sát Phong Nha. Hai năm sau, ông cùng các thành viên Hiệp hội hang động Hoàng gia Anh có dịp gặp Đại tướng, được ông động viên, chỉ bảo, càng thêm quyết tâm gắn bó với vùng núi đá vôi này. Năm 2009, nhờ người thợ rừng Hồ Khanh dẫn lối, đoàn tìm ra hang Sơn Đoòng – hang động lớn nhất thế giới. Từ đó, Phong Nha – Kẻ Bàng với hơn 470 hang động dần trở thành điểm đến hàng đầu của du lịch mạo hiểm châu Á.

Đại Tướng Võ Nguyên Giáp gặp gỡ đoàn thám hiểm hang động Hoàng Gia Anh tại Quảng Bình (nay là Quảng Trị)
Đại Tướng Võ Nguyên Giáp gặp gỡ đoàn thám hiểm hang động Hoàng Gia Anh tại Quảng Bình (nay là Quảng Trị)

Cũng trên dải Trường Sơn từng in dấu những đoàn quân, đoàn xe chi viện miền Nam dưới sự chỉ đạo của Đại tướng, Hang Chỉ Huy đã được phục dựng để tái hiện lại tuyến lửa Trường Sơn với công nghệ VR 9D và những tư liệu chiến trường bước ra từ bom đạn.

Ngày 4/10/2013, Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần, hưởng thọ 103 tuổi. Theo di nguyện của ông, lễ an táng được tổ chức ngày 13/10/2013 tại Vũng Chùa – Đảo Yến, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Phú Trạch, tỉnh Quảng Trị). Kể từ đó, dòng người từ khắp mọi miền tổ quốc đã đến viếng thăm, dâng hương tưởng niệm vị anh hùng đã yên nghỉ.

Quảng Bình tự hào là nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng một trong những vị tướng vĩ đại nhất thế kỷ 20, để rồi cũng chính mảnh đất ấy đón ông trở về, khép lại một cuộc đời trọn vẹn với dân, với nước. Người con Quảng Bình năm xưa rời làng An Xá ra đi trong bí mật, nay đã trở thành một phần lịch sử bất diệt của chính quê hương.

Share this post on social