Chuyển tới nội dung

Nụ cười chiến lũy của “Cô gái tải đạn” Trần Thị Ngọc

Trong cuốn sách Hồ sơ Đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại, có một bức ảnh khiến người xem khó lòng rời mắt. Giữa trận địa đầy khói lửa, một cô gái thanh niên xung phong với dáng người nhỏ nhắn, mái tóc tết đôi gọn gàng đang vác trên vai một hòm đạn nặng đến 60kg. Bom đạn vẫn dội xuống đâu đó quanh mình, vậy mà trên gương mặt cô vẫn hiện lên một nụ cười rạng rỡ, trong trẻo đến lạ.

Khoảnh khắc ấy được nhà báo Trọng Thanh của Thông tấn xã Việt Nam ghi lại trong những năm ông tác nghiệp trên tuyến lửa. Bức ảnh sau đó trở thành một trong những hình ảnh đẹp về thế hệ thanh niên xung phong Trường Sơn. Đó là nơi những cô gái tuổi mười tám, đôi mươi đã mang trên vai những hòm đạn nặng hàng chục ký, băng qua những cung đường bom đạn để đưa hàng ra tiền tuyến.

Nhưng phía sau nụ cười ấy lại có một câu chuyện chưa được kể trọn vẹn. Suốt nhiều năm sau chiến tranh, người trong ảnh được chú thích là “Lê Thị Ngọc”, một cô gái Quảng Bình thuộc đội hình thanh niên xung phong tải đạn. Không ai biết chính xác cô là ai, quê ở đâu và cuộc đời sau chiến tranh đã đi về đâu.

Cho đến nhiều năm sau, từ những manh mối ít ỏi, hành trình tìm kiếm người con gái trong bức ảnh bắt đầu đưa những người yêu lịch sử trở về một vùng quê ở thôn Đức Môn, phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị (trước đây là Đức Ninh, Quảng Bình). Khi bức ảnh được đưa ra hỏi những người dân trong làng, họ gần như lập tức nhận ra gương mặt quen thuộc ấy.

“Đây là o Ngọc, o xã viên của làng tui tề!”

Và rồi, giữa một ngôi nhà nhỏ hướng ra những bờ ruộng, người ta đã tìm thấy nhân vật thực sự trong bức ảnh lịch sử năm nào. Đó là o Trần Thị Ngọc, sinh năm 1949, người con gái của mảnh đất Quảng Bình đã mang tuổi xuân của mình đi qua những năm tháng khốc liệt nhất trên chiến trường Trị Thiên và những cung đường Trường Sơn. Đằng sau nụ cười rạng rỡ giữa trận địa bom đạn là câu chuyện về một cô gái tuổi mười chín rời quê nhà, khoác lên mình màu áo thanh niên xung phong và gửi lại những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời nơi tuyến lửa.

Hình ảnh nữ thanh niên xung phong tải đạn đã được lưu vào sử sách
Hình ảnh nữ thanh niên xung phong tải đạn đã được lưu vào sử sách

Thanh xuân gửi lại chiến trường Trị Thiên khói lửa

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Bình, Trần Thị Ngọc có một tuổi thơ gắn với những ngày tháng bình dị của làng quê Đức Ninh. Khi ấy, cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, nhưng trong ký ức của cô gái trẻ vẫn là mái nhà tranh, những bờ ruộng thân thuộc và những người thân cùng nhau nương tựa qua từng ngày. Rồi chiến tranh đi qua quê nhà, mang theo những trận bom ngày một dồn dập và biến cuộc sống vốn bình yên ấy thành những tháng ngày luôn thấp thỏm giữa tiếng máy bay, tiếng nổ.

Cuối năm 1968, ngôi nhà tranh của mấy mẹ con Trần Thị Ngọc ở Đức Ninh bị bom đánh cháy rụi. Căn nhà vốn đã đơn sơ, nay càng trở nên trống trải giữa những ngày chiến tranh khốc liệt. May nhờ các bác, các chú ở Thị đội Đồng Hới và Xã đội Đức Ninh chặt tre, hái lá, dựng lại cho mấy mẹ con một mái nhà tạm để có chỗ tránh mưa tránh nắng.

Nhưng có lẽ, những mất mát ấy chẳng làm cô gái trẻ chùn bước. Từ tháng 3 năm 1968, khi vừa tròn mười chín tuổi, Trần Thị Ngọc đã viết đơn tình nguyện xin vào lực lượng thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước. Với nhiều cô gái, tuổi mười chín khi ấy có thể là những ngày tháng còn ở bên gia đình, nhưng với o Ngọc, thanh xuân lại bắt đầu bằng quyết định khoác lên mình màu áo xanh và đi về phía những nơi chiến trường đang cần người.

O Ngọc được biên chế vào C2, D72, Binh trạm 107 của TNXP Quảng Bình. Những ngày đầu ở đơn vị cũng là những ngày cô làm quen với một cuộc sống hoàn toàn khác. Cùng với những cô gái chỉ vừa mười chín, đôi mươi, o Ngọc đi vào vùng núi phía Tây Quảng Bình, nơi những con đường xuyên qua rừng núi luôn có thể trở thành mục tiêu của bom đạn. Công việc của các o là vận chuyển, tập kết lương thực, vũ khí và những thứ cần thiết cho chiến trường. Những chuyến đi nối tiếp nhau, có khi giữa ngày nắng gắt, có khi trong mưa rừng, và cũng có những lần phải đi khi máy bay địch vẫn còn quần thảo trên bầu trời.

Rồi tháng 3 năm 1969, cuộc đời người nữ thanh niên xung phong trẻ tuổi ấy bước sang một chặng khác. Đơn vị nhận lệnh điều động sang đơn vị 604, lực lượng hậu cần bổ sung cho chiến trường Trị Thiên.

Trị Thiên khi ấy là một trong những chiến trường ác liệt nhất. Đến đó, o Ngọc và đồng đội đảm nhận nhiệm vụ mở đường, đào hầm, làm kho bãi, vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men ra tiền tuyến, rồi cáng thương binh trở về phía sau để cứu chữa. Công việc nào cũng nặng nhọc, nguy hiểm, nhưng thiếu những đôi vai nhỏ bé ấy, những chuyến hàng sẽ chẳng thể đến nơi, những người lính ngoài mặt trận sẽ thiếu đi những thứ họ cần để tiếp tục chiến đấu.

Có những ngày, o Ngọc cùng đồng đội đi trong tiếng bom và trở về khi trời đã tối. Những cô gái tuổi đôi mươi mang trên vai những gánh hàng nặng hơn sức mình, đôi chân lấm đất, quần áo sờn rách, nhưng ngày hôm sau lại tiếp tục lên đường. Chiến tranh dường như không cho họ nhiều thời gian để nghĩ về sợ hãi. Chỉ biết nơi nào có nhiệm vụ, nơi đó có những bước chân của người thanh niên xung phong.

Những chiến sĩ thanh niên xung phong tải hàng, tải đạn bằng đôi vai nhỏ nhắn
Những chiến sĩ thanh niên xung phong tải hàng, tải đạn bằng đôi vai nhỏ nhắn

“Vai trăm cân, chân vạn dặm” giữa làn bom đạn

Tháng 5 năm 1969, chiến trường Trị Thiên bước vào những ngày khốc liệt. Từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 5, trận đánh tại A Bia (A Lưới, Thừa Thiên Huế) diễn ra dữ dội đến mức sau này nơi đây được lính Mỹ gọi bằng một cái tên ám ảnh: “Hamburger Hill” – Đồi Thịt Băm.

Giữa những ngày bom đạn dồn dập ấy, o Trần Thị Ngọc cùng đồng đội vẫn bám trụ trên chiến trường. Các o không trực tiếp đứng ở tuyến đầu của trận đánh, nhưng công việc phía sau cũng chẳng có lấy một chút bình yên. Đào hầm, mở đường, dựng kho, vận chuyển lương thực, vũ khí, thuốc men ra phía trước, rồi cáng thương binh trở về, tất cả đều phải làm thật nhanh.

Những chuyến đi thường bắt đầu khi trời đã tối. Từ khoảng bảy giờ tối, các o lại gùi hàng men theo những con đường giữa rừng, đi cho đến tận hai, ba giờ sáng hôm sau. Ban đêm, bóng người hòa vào bóng núi, chỉ còn tiếng bước chân và tiếng bom đạn từ xa vọng lại. Đến nơi, hàng được giao xuống, rồi những người vừa mang đạn vào lại quay ra cáng thương binh trở về.

Theo quy định lúc bấy giờ, mỗi nữ thanh niên xung phong thường được giao vận chuyển khoảng 25kg hàng trên quãng đường dài chừng hai cây số. Nhưng trong những lúc chiến trường cấp bách, con số ấy dường như chẳng còn là giới hạn. Một hòm đạn có khi nặng tới 60kg. Với một cô gái nhỏ nhắn như o Ngọc, đó là một sức nặng vượt xa khả năng của một người bình thường.

Nhưng hòm đạn vẫn phải được đưa đi. Mỗi lần như vậy, đồng đội phải giúp đặt hòm đạn lên vai. O Ngọc ghì người xuống, lấy hết sức giữ thăng bằng rồi bước đi. Có lúc o còn chạy để kịp giờ. Một cô gái nhỏ mang trên vai hòm đạn nặng gần gấp đôi trọng lượng cơ thể mình, đi giữa một chiến trường mà chỉ một tiếng máy bay hay một loạt bom rơi xuống cũng có thể thay đổi tất cả.

Có những đêm đường hành quân kéo dài hàng giờ, đói đến mức chẳng còn sức bước tiếp. Cơm nắm mang theo cũng không phải lúc nào có thời gian để ăn. Giữa những đợt oanh tạc, các o chỉ kịp tranh thủ lót dạ rồi lại lên đường. Có khi quá gấp, gạo sống cũng được nhai vội để có chút sức mà đi tiếp. Những hạt gạo đắng nghẹn trong miệng, nhưng chẳng ai có thời gian để nghĩ nhiều.

Đầu năm 1971, trong chiến dịch phản công chống cuộc hành quân Lam Sơn 719, o Ngọc tiếp tục cùng đồng đội có mặt trên những cung đường chiến lược của Trường Sơn. Lúc này, hiểm nguy không chỉ đến từ bom đạn. Những cánh rừng từng xanh ngút mắt bị chất độc hóa học tàn phá, những cung đường trở nên trơ trụi giữa núi rừng. Các o phải đi qua những con dốc cao, những đoạn đường hiểm trở trong cái rét, cái đói và những cơn sốt rét rừng liên miên.

“Vai trăm cân, chân vạn dặm” có lẽ là cách giản dị nhất để nói về những con người ấy. Họ không có sức mạnh của những người lính được huấn luyện để chiến đấu, cũng chẳng mang theo những thứ vũ khí lớn lao. Thứ họ có là tuổi trẻ, lòng can đảm và một ý nghĩ rất giản dị, đó là phía trước đang cần mình.

Trở về quê hương và cuộc sống đời thường bình dị

Ngày 31 tháng 7 năm 1970, những đóng góp của o Trần Thị Ngọc được ghi nhận bằng danh hiệu “Dũng sĩ Quyết thắng” cấp 3 do Quân khu Trị Thiên trao tặng, cùng bằng khen về thành tích phục vụ chiến đấu trong hai năm 1969 và 1970. Nhưng những phần thưởng ấy không thể xóa đi những dấu vết mà chiến tranh để lại trên cơ thể người nữ thanh niên xung phong.

Cuối năm 1971, trong một lần vận chuyển hàng, o Ngọc bị thương nặng. Đơn vị đưa o về Viện 16 ở A Lưới điều trị hơn hai tháng. Sau đó, o xuất ngũ, trở về Quảng Bình, rời những cung đường Trường Sơn để bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn khác.

Hình ảnh cô gái tải đạn được trưng bày tại Hang Chỉ Huy
Hình ảnh cô gái tải đạn được trưng bày tại Hang Chỉ Huy

Cuối năm 1972, o Ngọc kết hôn với ông Đặng Xuân Quảng, một người cựu chiến binh cũng từng là thanh niên xung phong trước khi gia nhập quân đội, thuộc Binh chủng Pháo binh của Tỉnh đội Bình Trị Thiên. Hai người từng đi qua chiến tranh, rồi cùng nhau trở về làm những người nông dân giữa cuộc sống thời bình.

Những năm sau đó, căn nhà nhỏ của hai vợ chồng dần có thêm tiếng trẻ con. Sáu người con lần lượt lớn lên từ những bữa cơm giản dị, từ ruộng lúa, vườn rau và những ngày tháng vợ chồng cùng nhau làm lụng. Những đôi vai từng mang hòm đạn năm nào giờ lại gánh những bó rau, những bao lúa. Đôi chân từng đi qua những cung đường bom đạn nay chỉ còn quanh quẩn trên mảnh đất quê nhà.

Có lẽ chẳng ai nhìn người phụ nữ nông dân ấy mà nghĩ rằng o từng đi qua một trong những chiến trường khốc liệt nhất của cuộc chiến. O Ngọc cũng ít khi nhắc về mình. Chiến tranh đã lùi xa, cuộc sống có những lo toan mới, và o cứ thế sống bình dị như bao người phụ nữ quê nhà khác.

Cho đến hơn ba mươi năm sau. Năm 2002, trong một lần đi khám sức khỏe để làm thủ tục hưởng chính sách thương binh, o Ngọc được những đồng đội cũ đưa cho xem một bức ảnh. O nhìn người con gái trong ảnh hồi lâu rồi mới nhận ra đó chính là mình.

Bức ảnh được chụp giữa chiến trường năm nào. Trong khung hình là một cô gái nhỏ nhắn, khuôn mặt vẫn còn nét trẻ trung và một nụ cười rạng rỡ giữa những ngày bom đạn. O Ngọc nhìn bức ảnh mà ngỡ ngàng. Giữa chiến trường khi ấy, sống chết chỉ cách nhau trong gang tấc, o chẳng hề biết có một nhà báo đã ghi lại khoảnh khắc ấy.

O chỉ cười hiền rồi nói rằng: “Có lẽ do dáng hình nhỏ nhắn của mình lại hay cười nên o được lọt vào khuôn hình của nhà báo chăng! Thú thực, khi biết có bức ảnh này, o xúc động lắm. Đây là bức ảnh quý để đời của o khi tham gia chiến trường”.

Do những thất lạc thông tin sau chiến tranh, bức ảnh của o Ngọc đã được chú thích nhầm tên thành Lê Thị Ngọc và sự nhầm lẫn ấy kéo dài suốt nhiều năm. Khi biết câu chuyện, o không hề trách móc hay nặng lòng, mà chỉ mỉm cười bao dung: “Về sự nhầm lẫn giữa tên họ, tui thấy không nặng nề lắm mô. Thấy một người giống mình cũng vui mà.”

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua. Chiến tranh đã trở thành ký ức. Những người trẻ của năm ấy nay đã bước sang một tuổi đời khác. Nhưng nhìn vào nụ cười của o Trần Thị Ngọc, người ta vẫn có thể hình dung được một thế hệ đã từng sống như thế nào: can trường trước hiểm nguy, tận tụy với nhiệm vụ và luôn giữ trong mình một niềm tin rất đỗi giản dị vào ngày mai.

O Ngọc đã gửi lại tuổi xuân ở chiến trường, nhưng có lẽ o cũng để lại nơi ấy một điều đẹp hơn cả những chiến công. Đó là nụ cười. Một nụ cười nhỏ bé giữa đại ngàn Trường Sơn, nhưng đủ sức đi qua hơn nửa thế kỷ để kể cho những người sinh ra trong hòa bình biết rằng đã từng có một thế hệ trẻ như thế, mang tuổi xuân của mình đi qua lửa đạn để đất nước có một ngày bình yên.

Share this post on social