
Lịch sử Đường Trường Sơn thường được nhắc đến bằng những đoàn xe vượt núi, những cung đường bom đạn và những người lính ngày đêm giữ mạch giao thông. Lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển lại gắn với những con tàu lặng lẽ vượt đại dương, mang vũ khí vào Nam. Nhưng nếu lần theo dấu vết từ những ngày đầu hình thành, cả hai tuyến vận tải ấy đều dẫn về một cái tên: Thiếu tướng Võ Bẩm.
Ông là người được giao mở tuyến đường Trường Sơn năm 1959, đồng thời cũng là người tổ chức những chuyến thử nghiệm đầu tiên trên tuyến vận tải biển. Từ rừng sâu đến biển cả, cuộc đời ông gắn với hành trình mở đường cho một cuộc chiến không cho phép dừng lại.
Truyền thống gia đình nuôi dưỡng khí phách con nhà tướng
Thiếu tướng Võ Bẩm sinh năm 1915, tại Tịnh Khê, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, trong một gia đình mà lòng yêu nước đã ăn vào máu thịt trước cả khi ông biết nói. Thân phụ của ông là cụ Võ Thạc, Phó soái trong khởi nghĩa Duy Tân bị quân Pháp bắt và tra tấn đến chết khi Võ Bẩm vừa tròn 1 tuổi.
Thân mẫu của ông là cụ Trương Thị Bằng, con của một gia đình nề nếp, hiếu học và có truyền thống yêu nước. Bà kiên cường nuôi con khôn lớn, truyền ngọn lửa yêu nước, tinh thần bất khuất cho những người con, trở thành hậu thuẫn vững chắc cho các con theo đuổi lý tưởng cách mạng.
Lớn lên trong ngọn lửa yêu nước, anh trai ông, nhà cách mạng Võ Khoa tham gia hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và là một trong những đảng viên cộng sản đầu tiên. Tuy nhiên ông bị chính quyền thực dân bắt và tra tấn trong tù, hy sinh khi tuổi đời còn trẻ. Trước cách mạng Tháng 8, các tổ chức cộng sản ở quê nhà ông bị đàn áp gắt gao, nhiều lần bị xoá sổ, tái tổ, rồi lại xóa sổ, tái tổ. Nhưng cứ lớp cán bộ này bị tù đày, tra tấn, thậm chí tử hình thì lớp cán bộ khác lại đứng lên.
Nối gót truyền thống bất khuất ấy, từ khi còn là thiếu niên, Võ Bẩm đã tham gia cách mạng, làm liên lạc, rải truyền đơn, tham gia Tự Vệ Đỏ, v.v. Năm 1934, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đến năm 1935, bí thư tỉnh uỷ và hầu hết tỉnh uỷ viên bị Pháp bắt, trong đó có cả Võ Bẩm.
Ở tuổi 20, ông bị kết án 12 năm tù, bắt đầu thời niên thiếu vào tù ra khám, từ nhà tù Lao Bảo, nhà đầy Buôn Ma Thuột, và An trí Ba Tơ. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông nhập ngũ, lần lượt đảm nhiệm nhiều cương vị từ chính trị đến chỉ huy. Các vị trí tiêu biểu như Chính trị viên Chi đội, Chính ủy Trung đoàn, Phân khu trưởng kiêm Chính ủy Phân khu Tây Nguyên,… Bí thư Ban Cán sự Đảng tỉnh Kon Tum.
Cuối năm 1953, ông về Khu 5 làm Trưởng ban Tác chiến Bộ Tư lệnh Liên khu 5; tháng 4-1954, làm Chính ủy Trung đoàn 803, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn. Bước chân người chỉ huy trẻ tuổi ấy dọc ngang khắp chiến trường miền Trung và Tây Nguyên, tham gia nhiều trận đánh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đã hun đúc nên bản lĩnh và kinh nghiệm để ông trở thành lựa chọn hàng đầu cho nhiệm vụ tuyệt mật 1959.

Mật lệnh “sống để dạ, chết mang theo” và sự ra đời của Đoàn 559
Ngày 5 tháng 5 năm 1959, Trung tướng Nguyễn Văn Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, trực tiếp giao nhiệm vụ cho Võ Bẩm mở một tuyến đường chi viện bí mật vượt núi rừng Trường Sơn vào Nam. Nhiệm vụ tuyệt mật không được ghi lại bằng giấy, mở ra tuyến đường chưa từng có trên bản đồ và cũng không được vẽ chính xác trên bản đồ.
Ngày 19 tháng 5 năm 1959, đúng dịp sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn “công tác quân sự đặc biệt” chính thức mang tên Đoàn 559. Những bước soi đường mở lối đầu tiên gặp vô vàn thách thức nhưng lịch sử oai hùng của dân tộc và những năm tháng dùng chính ý chí con người để thắp sáng giữa đêm trường nô lệ đã thôi thúc ông tiến về phía trước.
440 chiến sĩ được Võ Bẩm tuyển chọn cải trang thành dân địa phương: mặc áo bà ba, đi dép cao su, đeo gùi, đóng vai phu sơn tràng, công nhân nông trường, dân công. Tuyến đường vận tải đi theo những cung hẻo lánh, tránh xa đường lớn và làng bản, thực hiện đúng tinh thần “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”.
Địa hình rừng già vừa là lợi thế giúp đoàn tránh được hệ thống đồn bốt của Mỹ và chính quyền Sài Gòn dọc đường số 9, vừa là thử thách sinh tử với mỗi bước chân. Ngày 13/8/1959 đánh dấu chuyến hàng đầu tiên vượt Trường Sơn đến Tà Riệp – Bắc A Lưới thành công sau 8 ngày đêm trèo đèo lội suối. Đến cuối năm 1959, vận chuyển vào Khu 5 và Mặt trận Trị Thiên gần 2.000 khẩu súng bộ binh, hàng trăm ngàn viên đạn, v.v.; đồng thời đưa hơn 500 cán bộ vào chiến trường miền Nam.
Từ chỗ phải giấu mình, tránh cả dân lẫn địch, Đoàn 559 dần chuyển sang vận động, tranh thủ sự ủng hộ của đồng bào các dân tộc dọc tuyến đường. Nhận thấy cách vận chuyển gùi thồ luồn lách dưới tán rừng không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của chiến trường, Võ Bẩm đề xuất “lật cánh” sang phía tây Trường Sơn, mượn đất bạn Lào để mở tuyến vận tải bằng ô tô, nơi địa hình bằng phẳng hơn nhiều so với Đông Trường Sơn. Dù vậy, tuyến đường Đông Trường Sơn vẫn được duy trì song song, đề phòng những bất trắc có thể xảy ra.

Người đặt viên gạch đầu tiên cho đường Hồ Chí Minh trên biển
Hiểu được sự cấp bách của nhiệm vụ chi viện cho chiến trường miền Nam, từ khi Đoàn 559 vừa len lỏi những tuyến gùi thồ đầu tiên, đoàn trưởng Võ Bẩm đã đề xuất triển khai thêm tuyến vận tải trên biển. Ông từng tổ chức vượt biển sang Hải Nam, Trung Quốc vào năm 1950. Chuyến ấy có tổng cộng 6 tàu chở vũ khí, có 3 tàu bị bắt và chỉ có 3 tàu an toàn trở về nhưng cũng góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc. Hiểu rõ những ưu điểm cùng nguy cơ trong vận tải đường biển. Tuy nhiên, hiệu quả của một vài chuyến trót lọt cũng có ý nghĩa to lớn với chiến trường miền Nam. Do đó, Thứ trưởng Nguyễn Văn Vịnh giao trọng trách mới cho Võ Bẩm.
Ông trực tiếp tuyển chọn những chiến sĩ Quân khu 5, phần lớn là ngư dân quê Quảng Nam, Quảng Ngãi, lập thành đơn vị mang mật danh Tiểu đoàn 603 vào tháng 7/1959 – “Tập đoàn đánh cá sông Gianh”. Đến cuối năm 1959, tiểu đoàn đã có 20 thuyền đầy đủ buồm, ngư cụ, được huấn luyện để sẵn sàng mở ra một tuyến đường mới vào Nam.
Đêm 30 Tết Canh Tý, năm 1960, “Tập đoàn đánh cá sông Gianh” thử nghiệm chuyến vận tải biển đầu tiên, chở hàng chi viện cho Quân khu 5 tại Hố Chuối. Giữa đường gặp bão lớn, thuyền bị dạt ra vùng Lý Sơn, bị tàu tuần tra của Mỹ và VNCH phát hiện. 6 chiến sĩ trên tàu đã cho nổ tàu cá, nhấn chìm tất cả vũ khí, đạn dược vào lòng biển sâu để phi tang dấu tích về một tuyến vận tải đang nhá nhem thành hình.
Chuyến đi đầu tiên không đến được đích, nhưng đã đặt viên gạch đầu tiên cho một hướng vận tải mới. Sau thất bại này, Bộ Quốc phòng chỉ đạo rút kinh nghiệm, tìm phương án phù hợp hơn. Đến năm 1960, các phong trào khởi nghĩa ở Nam Bộ phát triển rộng, yêu cầu số lượng lớn vũ khí, đạn dược, thuốc súng, v.v. Phương án vận tải đường biển vào sâu các tỉnh Nam Bộ một lần nữa được khởi động. Lần này, các tỉnh ven biển ở đồng bằng Nam Bộ sẽ chủ động đưa thuyền vượt biển ra Bắc để thăm dò tình hình, nghiên cứu tuyến vận tải và sau đó nhận tiếp tế.
Đến ngày 23/10/1961, Đoàn 759 vận tải thuỷ chính thức ra đời, và tháng 10/1962, con tàu “Phương Đông 1” mang theo 30 tấn vũ khí đã cập bến Vàm Lũng (Cà Mau) an toàn, chính thức khai thông tuyến vận tải chiến lược mang tên đường Hồ Chí Minh trên biển.

Vai trò phó Tư lệnh Đoàn 559 và kỳ tích Đường 20 Quyết Thắng
Đến năm 1965, Đoàn 559 phát triển thành một lực lượng lớn, tổ chức ngày càng hoàn chỉnh. Phương thức vận tải cũng chuyển hẳn từ mang vác, gùi thồ trong những năm đầu sang vận tải cơ giới là chủ yếu trong giai đoạn 1963-1964, vận chuyển hàng hoá lớn gấp nhiều lần và rút ngắn thời gian đáng kể. Có giai đoạn không quân vận tải Việt Nam chuyển hàng đến sân bay Thà Khống, hoặc thả dù hàng xuống Mường Phìn.
Trước quy mô ngày càng lớn của tuyến vận tải chiến lược, cùng với sự đánh phá ngày càng ác liệt của không quân Mỹ, Quân ủy Trung ương ra nghị quyết nâng Đoàn 559 lên tương đương cấp quân khu. Thiếu tướng Phan Trọng Tuệ được điều vào làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Đồng chí Võ Bẩm được bổ nhiệm giữ chức Phó Tư lệnh.
Con đường lớn mạnh, sức chi viện cho miền Nam càng tăng càng thôi thúc giới cầm quyền Mỹ quyết tâm cắt đứt tuyến đường Trường Sơn. Đặc biệt là Mỹ đã khoanh vùng được trọng điểm đường Đường 12 – trục ngang duy nhất đưa xe vận tải từ đầu tuyến Trường Sơn nhập vào tuyến Tây Trường Sơn trên đất Lào. Có những lúc, đoàn xe vận tải bị máy bay Mỹ quần thảo ngày đêm, chặn đường bắn phá gây thiệt hại nặng nề về người và hàng hoá.
Năm 1965, Bộ Chính trị quyết định xây dựng một tuyến đường mới – đường 20 Quyết Thắng – từ khu vực Phong Nha nối sang Lào. Phó tư lệnh Võ Bẩm trực tiếp trình bày phương án mở tuyến đường với Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, được ông phê duyệt và quyết định cấp 500 tấn thuốc nổ, 10.000 thanh niên xung phong cùng Trung đoàn 10 công binh. Đi kèm đó là thời hạn phải hoàn thành trong vòng 4 tháng.
Con đường được tiến hành thi công từ 2 đầu, khởi công vào ngày 21/12/1965. Hướng phía đông từ Phong Nha đến Ba Thang, lên U Bò – Cà Roòng – biên giới Việt – Lào với chiều dài khoảng 65km. Các chiến sĩ phải đục phá hơn khoảng 1 triệu m3 đá để mở đường. Trong đó, đoạn khó khăn nhất là ở dốc Ba Thang, nơi bộ đội Trường Sơn phải treo mình lên vách đá dựng đứng bằng 3 chiếc thang được nối dài thủ công để đặt bộc phá.
Ở phía tây, công trình được thi công từ Lùm Bùm về hướng biên giới. Sau hơn 3 tháng thi công, ngày 5 tháng 5 năm 1966, Đường 20 Quyết Thắng dài khoảng 125km chính thức thông xe. Dọc tuyến đường, nhiều cơ sở phục vụ tập kết hàng hóa và điều hành tác chiến lần lượt hình thành. Trong đó có Hang Chỉ Huy – một hang động tự nhiên được cải tạo thành 7 tầng, đóng vai trò tổng kho lương thực, vũ khí, hậu cần, trạm phẫu dã chiến, v.v., và là cơ quan chỉ huy đầu não trên tuyến Đường 20 Quyết Thắng.
Năm 1966, sau khi con đường 20 Quyết Thắng hoàn thành, sức khỏe phó tư lệnh Võ Bẩm dần suy giảm sau nhiều năm lao lực. Ông được đưa ra Hà Nội điều trị, sau khi bình phục lại quay lại phục vụ sự nghiệp kháng chiến và xây dựng đất nước với nhiều cương vị khác nhau. Năm 1973, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm Trường Sơn, ông đã khen ngợi “Đường 20 – Quyết Thắng là một kỳ công, kỳ tích, kỳ quan”.

Vị tướng tận tụy mà Trường Sơn nhớ mãi
Sau khi hồi phục, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách trong quân đội, từ Chính ủy Đoàn 959, Cục trưởng Cục Quản lý giáo dục, Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ Tổng tham mưu, Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tổng tham mưu đến Phó Tổng Thanh tra quân đội. Năm 1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Đến năm 1980, ông nghỉ hưu, khép lại gần nửa thế kỷ hoạt động cách mạng và quân ngũ.
Tháng 5/1989, ông trở lại với Trường Sơn trong một ngày hội lớn: lễ kỷ niệm 30 năm ngày mở đường Trường Sơn – ngày truyền thống Bộ đội Đường Hồ Chí Minh. Những cống hiến và sự nghiệp soi đường của ông vẫn luôn vang vọng trong nhiều thế hệ chiến sĩ Trường Sơn và quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1999, nhân kỷ niệm 40 năm truyền thống Bộ đội Trường Sơn, dù tuổi cao và sức khỏe không cho phép ông đến dự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đích thân mang hoa đến tận nhà thăm và chúc mừng ông.
Thiếu tướng Võ Bẩm cũng để lại những ký ức của mình qua hồi ký Những nẻo đường kháng chiến xuất bản năm 2006. Ông còn là đồng tác giả cùng Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên trong quyển sách Đường về thành phố mang tên Bác, xuất bản năm 2005. Qua những trang sách ấy, câu chuyện về một thời mở đường, giữ đường và tổ chức vận tải làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc được lưu lại từ góc nhìn của chính người trong cuộc.
Thiếu tướng Võ Bẩm từ trần lúc 5 giờ 55 phút ngày 5/7/2008 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Hà Nội. Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cùng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất và hạng Nhì. Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất của người mở lối Trường Sơn nằm ở thành quả to lớn mà con đường huyền thoại đã mang đến cho dân tộc và sự trân trọng, ghi nhớ và lưu truyền mãi của Đường mòn Hồ Chí Minh và đường Hồ Chí Minh trên biển.